Quy trình nuôi tôm bằng bột bã mía

EMBTM là bột bã mía được ủ lên men với chế phẩm sinh học EM. Khi bón vào ao tôm sẽ tạo thành các hạt Biofloc, vừa làm giá thể cho các vi sinh vật có lợi đeo bám, vừa làm thức ăn bổ sung cho tôm.


Quy cách: bao 5kg
Đơn giá: 95.000đ
Liên hệ (khách lẻ hoặc phân phối): 0913 957 700






Thành phần và ứng dụng bột bã mía
Bã mía chiếm 25 - 30% trọng lượng mía đem ép.
Thành phần trung bình của bã mía:
Nước: khoảng 40 - 50%
Xơ: khoảng 45 - 48% (trong đó 45 - 55% là cellulose)
Chất hoà tan (đường): 2,5%

Thành phần của bã mía sau khi rửa sạch và sấy khô gồm: 
Xenlulo: khoảng 45 - 55%
Hemicellulose: khoảng 20 - 25%
Lignin: khoảng 18 - 24 %
Tro: 1 - 4%
Sáp : <1%




Bột bã mía được dùng làm chất đốt, làm thức ăn cho trâu bò và làm phân bón, giúp bổ sung chất sắt, kẽm, phốtpho, cacbon, canxi... cho cây. Trong nuôi tôm, bột bã mía được dùng để bổ sung chất khoáng cho tảo, giúp phát triển hệ vi sinh vật có lợi trong nước, ổn định môi trường nước và cung cấp một số chất (sắt, kẽm...) cho tôm nuôi, đặc biệt là tôm thẻ chân trắng (TTCT); đồng thời, khi ứng dụng phương pháp này, chỉ số pH, độ kiềm trong nước ổn định ở mức phù hợp cho tôm phát triển. 

Các nghiên cứu về lợi ích của bột bã mía trong nuôi tôm



Dự án nghiên cứu về tác dụng của bã mía trên tôm thẻ chân trắng (Penaeus Vannamei) được thực hiện bởi Donald W. Freeman, Eirik O. Duerr và Kenneth M. Leber tại Mỹ. 
Cách thực hiện :
・ Chọn giống tôm thẻ chân trắng với khối lượng trung bình 0,24g/con
・ Thả vào 4 ao, mỗi ao rộng 200m2 với mật độ 20 con/m2.
・ Nuôi bằng 4 phương pháp tương ứng sau đây trong vòng 12 tuần.

Phương pháp 1 (bã mía AM – Artificial Manure) : sử dụng bã mía kết hợp với 1 số chất hữu cơ, vô cơ tạo nên 1 loại phân bón ao nhân tạo nhằm mục đích kích thích quá trình dị dưỡng và tự dưỡng của hệ vi sinh vật trong ao.
Phương pháp 2 (bã mía NP): sử dụng bã mía kết hợp với 1 số chất vô cơ nhằm mục đích chủ yếu kích hoạt quá trình tự dưỡng.
Phương pháp 3 (manure) : sử dụng các loại phân bón hữu cơ và vô cơ thông dụng.
Phương pháp 4 (no-feed input control) : không sử dụng gì cả.









➢ Nhìn vào biểu đồ ta thấy từ tuần 8 trở đi, tốc độ tăng trưởng của tôm trong ao không dùng gì cả giảm đáng kể, trong khi tôm ở các ao khác vẫn tiếp tục tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn.
➢ Kết quả đo được vào tuần 8 cho thấy tôm từ 2 phương pháp 1,2 có sử dụng bã mía (AM = 5.2g, NP = 5.6g) cao hơn 2 phương pháp còn lại (PP 3 = 4.1g, PP 4 = 3.8g).
➢ Từ tuần 10 trở đi, sự cách biệt càng thể hiện rõ hơn.



➢ Nhìn vào bảng 3 ta thấy trọng lượng tôm tươi của 2 phương pháp dùng bã mía vẫn cao hơn hẳn so với 2 phương pháp còn lại.

Nghiên cứu được tài trợ bởi Cục Nghiên Cứu Nông Nghiệp (Agricultural Research Service) trực thuộc Bộ Nông Nghiệp Hoa Kì (U.S. Department of Agriculture).



Quy trình nuôi tôm hiệu quả kết hợp sử dụng bột bã mía EMBTM
Chuẩn bị ao nuôi
Diện tích ao 2.000 - 5.000m2, ao nên có hình chữ nhật. Quy trình cải tạo ao, người nuôi thực hiện đúng như quy trình cải tạo ao nuôi tôm bình thường (tát cạn sên vét đáy, rải vôi, gia cố bờ cống, quây lưới...)



Nước cấp cho ao cũng được lấy từ ao lắng, khử trùng và diệt giáp xác, duy trì mực nước ao 1,2 - 1,4m. Sau khi lấy nước vào ao, thay vì bón bột đậu nành, bột cá gây màu nước thì người nuôi sử dụng bột bã mía hòa loãng tạt đều xuống ao, liều lượng 1kg/100m3 nước. Những đáy ao thuần thì sau 2 đợt bón bột bã mía (5 ngày/lần) thì màu nước lên đẹp. Đối với những ao nuôi có nền đáy bị chai, khó gây màu nước thì có thể tăng tần suất sử dụng bột bã mía lên 2 ngày/lần cho đến khi màu nước đạt yêu cầu (màu vỏ đậu hoặc bã trà nhạt), kiểm tra các yếu tố môi trường như pH 7,5 - 8, kiềm 120 - 130mg/L, NH3 < 0,1; H2S = 0, hàm lượng ôxy hòa tan > 5mg/L thì có thể thả giống.



Giống và mật độ thả
Tiêu chuẩn chọn con giống cũng như quy trình nuôi bình thường, giống nên được kiểm dịch và có chất lượng tốt.



Để đạt hiệu quả trong mô hình này người nuôi nên thả tôm với mật độ thưa, TTCT thả mật độ 30 - 35 con/m2, tôm sú 8 - 12 con/m2. Cần lắp đặt quạt khí và vận hành quạt đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho ao nuôi. Nên thả giống lúc thời tiết mát mẻ (sáng sớm hoặc chiều tối), và thả ở đầu gió để tôm phát tán được ra khắp ao.

Quản lý và chăm sóc
Thức ăn và chế độ cho ăn, người nuôi nên áp dụng đúng theo quy trình nuôi tôm bình thường.
Về quản lý môi trường, trong 2 tháng đầu người nuôi không phải bón bất cứ chế phẩm vi sinh hoặc chất khoáng bổ sung nào vào nước ao nuôi mà chỉ bón bột bã mía định kỳ xuống ao với liều lượng 10kg/1.000m3 nước ao. Lưu ý trước khi bón 1 ngày và sau khi bón 2 ngày người nuôi cần lấy mẫu nước để kiểm tra các yếu tố môi trường (mật độ vi khuẩn trong nước, pH, kiềm…) để đánh giá tác dụng của bột bã mía và có thể tăng giảm cho hợp lý.



Trong quá trình nuôi, nên chú ý chất lượng màu nước và các yếu tố cơ bản (pH, kiềm…) để điều chỉnh bằng cách bón thêm bột bã mía cho hợp lý. Thường xuyên kiểm tra sức ăn của tôm trong nhá vó để điều chỉnh đủ lượng thức ăn, tránh dư thừa. Trong thời gian nuôi cần duy trì mực nước 1m trở lên và không nên lội xuống ao mò bắt kiểm tra tôm khi trời nắng nóng. Cần trộn vào thức ăn Vitamin C, thuốc bổ gan để tăng sức đề kháng cho tôm.
Sau 2 tháng nuôi, lúc này tôm đã lớn, sức đề kháng tốt hơn, nhưng lượng chất thải cũng nhiều. Do vậy, ngoài việc bón bột bã mía định kỳ, người nuôi có thể sử dụng thêm chế phẩm vi sinh để xử lý nền đáy ao, tăng cường duy trì quạt khí giúp tôm hô hấp được tốt.

Thu hoạch
Sau 3 - 4 tháng nuôi đối với TTCT và 5 - 6 tháng nuôi đối với tôm sú thì có thể thu hoạch; tuy năng suất không cao như ao nuôi mật độ cao nhưng bù lại tôm luôn khỏe mạnh, màu sắc tươi sáng và kích cỡ lớn, tôm TTCT 40 - 50 con/kg, tôm sú 25 - 35 con/kg, năng suất 3,5 - 4 tấn TTCT/ha và 1,5 - 2 tấn tôm sú/ha; giá bán cao và đặc biệt ở quy trình này là chất lượng môi trường nước luôn được quản lý tốt, ít dịch bệnh và có thể nuôi bền vững.